Để đạt tốc độ tăng trưởng cao, phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
[Image: ]
Để đạt tốc độ tăng trưởng cao từ nay đến năm 2045, mô hình tăng trưởng phải chuyển đổi rất mạnh mẽ, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Ảnh: Hải Nguyễn
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được nền tảng phát triển quan trọng, duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao và mở rộng nhanh quy mô nền kinh tế. Tăng trưởng bình quân trong 40 năm Đổi mới đạt khoảng 6,7%/năm với mức đầu tư khoảng 30% GDP; riêng giai đoạn 1991-2000 tăng trưởng bình quân đạt 7,6%/năm và có sáu năm liên tục tăng trên 8%.
Tuy nhiên, xu hướng tăng trưởng thấp dần theo các giai đoạn dài hạn, còn thiên về chiều rộng, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài, nhất là khu vực FDI; trong khi tích lũy vốn, năng suất lao động và đổi mới công nghệ chưa có cải thiện đủ mạnh.
Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Trưởng khoa Kế hoạch phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân, để đạt tốc độ tăng trưởng cao từ nay đến năm 2045, mô hình tăng trưởng phải chuyển đổi rất mạnh mẽ, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, phải tạo ra những giá trị đặc thù của Việt Nam, những giá trị do Việt Nam tạo ra.
“Về thể chế, tôi có thực hiện một so sánh dựa trên bộ Chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) được quốc tế sử dụng để đánh giá chất lượng thể chế. Ở đây, chúng tôi chia thành ba nhóm nước. Chỉ số được đánh giá trong khoảng từ -2,5 đến 2,5 điểm; mức cao nhất là 2,5 và thấp nhất là -2,5.
Hiện nay, các chỉ số của Việt Nam đang ở mức từ -0,5 đến 0. Trong đó, có những chỉ số của chúng ta còn rất thấp, chẳng hạn như tiếng nói và trách nhiệm giải trình; hiệu quả của Chính phủ; chất lượng các quy định; pháp quyền. Chúng ta đã có những chính sách, những cải tiến và nỗ lực phòng, chống tham nhũng rất mạnh; tuy nhiên, chỉ số kiểm soát tham nhũng của chúng ta vẫn chưa cao”, PGS. TS Nguyễn Ngọc Sơn đánh giá.
Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Sơn, vấn đề là phải nâng cao chất lượng thể chế, tạo ra một cơ chế truyền động. Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân và nhiều chính sách liên quan…
Tuy nhiên, điều quan trọng là làm thế nào để các nghị quyết và định hướng đó được chuyển thành những kết quả cụ thể, tạo ra giá trị gia tăng và những giá trị đặc thù trong quá trình phát triển.
Để thực hiện trong giai đoạn tới, đối với mô hình hướng tới, PGS. TS Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất, đầu tiên, định hướng quốc gia và năng lực trung tâm. Các quốc gia phải giải phóng và nuôi dưỡng năng lực trong nước thông qua tầm nhìn dài hạn; phối hợp hiệu quả; nắm bắt các xu hướng toàn cầu; xây dựng sức mạnh để tồn tại, duy trì, đổi mới và phát triển.
Thứ hai là tự chủ, tích hợp và liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp và khu vực công nghệ. Bộ máy chính quyền chuyên nghiệp, dựa vào pháp quyền, phải kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp và khu vực công nghệ.
Thứ ba là chính sách công nghiệp có trọng tâm, đi kèm kỷ luật hiệu quả. Cần có sự hỗ trợ có điều kiện như tín dụng, mua sắm và tiêu chuẩn.Đặc biệt, cần xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn và chính sách mua sắm ưu tiên đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân trong nước, với các mốc thời gian và điều khoản kết thúc rõ ràng.
Thứ tư là nguồn nhân lực và năng lực mới. Cần đầu tư cho giáo dục, kỹ năng mua sắm công nghệ và nghiên cứu, phát triển.
Thứ năm là cơ sở hạ tầng, tài chính phát triển và nền tảng kỹ thuật số. Cần nâng cấp năng lực hậu cần, khả năng tiếp cận nguồn vốn, hạ tầng kỹ thuật và các nền tảng dùng chung như AI, IoT hoặc dữ liệu đám mây. Những nội dung này cần được phát triển trên một hệ sinh thái. Đặc biệt, trong kỷ nguyên công nghệ số, đây là yếu tố hết sức quan trọng, có thể giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển.
Thứ sáu là mở cửa có chiến lược và hội nhập toàn cầu. Chúng ta thu hút FDI nhưng phải xây dựng liên kết nội địa, đáp ứng các tiêu chuẩn và nâng cấp doanh nghiệp trong nước.
Cuối cùng là quản trị dựa trên bằng chứng và đồng thuận xã hội.