Hàng chế biến đang chiếm khoảng hai phần ba kim ngạch rau quả Việt Nam tại EU và trở thành động lực quan trọng giúp thị trường này duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Chế biến kéo tăng trưởng
Xuất khẩu rau quả Việt Nam sang Liên minh châu Âu (EU) đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng tích cực. Theo số liệu của Hiệp hội Rau quả Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU đạt khoảng 214,4 triệu USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Riêng tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 46,8 triệu USD, tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 37,9% so với tháng 6/2025. EU chiếm khoảng 5,8% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong nửa đầu năm.
[Image: ]
Thị trường EU tăng nhập khẩu rau quả chế biến từ Việt Nam trong 5 tháng đầu năm. Ảnh: Hà Duyên.
Dù quy mô còn thấp hơn nhiều so với thị trường Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng trên cho thấy EU đang nổi lên trong nhóm thị trường tăng trưởng nhanh của rau quả Việt Nam. Đáng chú ý, động lực tăng trưởng không chỉ đến từ rau quả tươi mà ngày càng rõ hơn ở nhóm sản phẩm chế biến.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết, hàng chế biến hiện chiếm khoảng hai phần ba kim ngạch rau quả xuất khẩu sang EU. Cơ cấu này khác khá rõ so với bức tranh chung của toàn ngành, khi sản phẩm chế biến chỉ chiếm 30,85% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm 2026.
Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan được Hiệp hội Rau quả Việt Nam tổng hợp, xuất khẩu sản phẩm chế biến trong nửa đầu năm đạt hơn 1,155 tỷ USD, tăng 38,4% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng của nhóm này tăng mạnh so với mức 26,54% trong 6 tháng đầu năm 2025.
Trong khi đó, nhóm quả và quả hạch đạt hơn 2,314 tỷ USD, tăng 13,1% và chiếm 61,81% tổng kim ngạch. Rau củ đạt gần 221,8 triệu USD, tăng 5,8%, chiếm 5,92%.
Nhiều sản phẩm chế biến ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao như chanh leo đạt 123,19 triệu USD, tăng 37,5%; xoài đạt 90,66 triệu USD, tăng 31,5%, khoai tây đạt gần 13 triệu USD, tăng 100,7%; thanh long đạt 9,23 triệu USD, tăng 50,1%; mít đạt 19,28 triệu USD, tăng 36,4%.
Dữ liệu từ phía EU cũng phản ánh khá rõ xu hướng này. Theo Eurostat, trong 5 tháng đầu năm 2026, EU nhập khẩu từ Việt Nam 96,95 triệu euro các sản phẩm thuộc HS 20 (nhóm rau, quả, hạt và các bộ phận thực vật đã qua chế biến), tăng 50,7% so với mức 64,34 triệu euro cùng kỳ năm 2025.
Chế biến sâu đang tạo động lực tăng trưởng cho rau quả Việt Nam tại thị trường EU. Ảnh: Hà Duyên.
Trong đó, quả, hạt và các bộ phận thực vật chế biến hoặc bảo quản đạt 43,16 triệu euro, gần gấp đôi cùng kỳ. Nước ép quả và rau đạt 37,68 triệu euro, tăng 17,4%; mứt, puree và paste quả hoặc hạt đạt 7,63 triệu euro, tăng 44,8%.
Đức là một trong những điểm sáng đáng chú ý. Giá trị nhập khẩu nhóm HS 20 từ Việt Nam của thị trường này tăng từ 12,49 triệu euro lên 28,24 triệu euro, tương đương mức tăng 126%. Tại Hà Lan, kim ngạch đạt 33,13 triệu euro, tăng 28,5%. Hai thị trường chiếm hơn 63% giá trị nhóm HS 20 mà EU nhập từ Việt Nam trong 5 tháng đầu năm.
Mở đường đến thị trường xa
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, một trong những hạn chế lớn nhất của rau quả Việt Nam hiện nay là tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch vẫn còn cao. Điểm yếu này ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí, chất lượng và khả năng đưa sản phẩm đến các thị trường xa.
“Hiện tỷ lệ rau quả hư hao sau thu hoạch của Việt Nam còn khoảng 30-40%, trong khi tại Thái Lan chỉ khoảng 10-15%”, ông Nguyên cho biết.
Với những thị trường gần, thời gian vận chuyển ngắn có thể giúp giảm bớt áp lực bảo quản. Nhưng khi hàng hóa được đưa sang EU, sản phẩm phải duy trì chất lượng trong thời gian dài hơn, từ khâu đóng gói, vận chuyển đến phân phối.
“Bảo quản rất quan trọng nếu muốn đưa nông sản đi xa. Xuất khẩu bằng đường hàng không nhanh nhưng chi phí cao, còn muốn đi bằng đường biển thì phải giải quyết được bài toán bảo quản”, ông Nguyên nhấn mạnh. Theo ông, nguồn cung rau quả trong nước ngày càng tăng, trong khi thị trường xuất khẩu không thể chỉ phụ thuộc vào một số nước lân cận Việt Nam. Để mở rộng sang EU và các thị trường xa, ngành rau quả phải đầu tư nhiều hơn vào công nghệ sau thu hoạch, kho lạnh, vận chuyển lạnh và các giải pháp giúp kéo dài thời hạn sử dụng.
Trong bối cảnh đó, chế biến giúp doanh nghiệp vượt qua một phần rào cản về khoảng cách. Thay vì phải tiêu thụ trong thời gian ngắn như hàng tươi, nông sản có thể được đông lạnh, sấy, nghiền, làm puree, nước ép hoặc chế biến thành sản phẩm bảo quản dài ngày.
Chế biến cũng mở thêm đầu ra cho những nông sản không đáp ứng yêu cầu về kích cỡ hoặc hình thức của kênh bán tươi nhưng vẫn bảo đảm chất lượng nguyên liệu. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tận dụng tốt hơn sản lượng thu hoạch, giảm tổn thất và nâng giá trị trên một đơn vị nông sản.
Tuy nhiên, hàng chế biến vào EU vẫn phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, thành phần và nhãn hàng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, thay vì chỉ xử lý ở nhà máy.
Tăng chế biến không chỉ để bán được giá cao hơn, mà còn giúp rau quả Việt Nam kéo dài thời gian bảo quản, giảm hao hụt và tiếp cận những thị trường xa như EU.
Hà Duyên