BỐI CẢNH NỬA CUỐI 2026 VÀ 5 NHÓM DOANH NGHIỆP THUẬN CHU KỲ
Ngày 16/9, Fed nâng lãi suất lên 3,75–4,00%, lần tăng đầu tiên sau ba năm. Ngày 8/10, dầu Brent giao dịch quanh 101 USD/thùng. Trong nước, CPI 9 tháng tăng 4,52%, riêng tháng 9 giá xăng tăng 9,39%. Nhóm cổ phiếu gắn với chu kỳ hàng hóa dẫn dắt thị trường suốt quý 3, rồi cũng chính nhóm này giảm mạnh nhất trong tuần 28/9–2/10 và tiếp tục điều chỉnh ở tuần kế tiếp. Diễn biến đó cho thấy "thuận chu kỳ" cần được tách thành nhiều nhóm, vì mỗi nhóm có cơ chế hưởng lợi, độ trễ và rủi ro khác nhau.
Tổng hợp từ Tác giả gửi đăng · 09:03 14/10/2026
30 giây3 phútĐọc sâu
[Image: BỐI CẢNH NỬA CUỐI 2026 VÀ 5 NHÓM DOANH NGHIỆP THUẬN CHU KỲ]
Ngày 16/9, Fed nâng lãi suất lên 3,75–4,00%, lần tăng đầu tiên sau ba năm. Ngày 8/10, dầu Brent giao dịch quanh 101 USD/thùng. Trong nước, CPI 9 tháng tăng 4,52%, riêng tháng 9 giá xăng tăng 9,39%. Nhóm cổ phiếu gắn với chu kỳ hàng hóa dẫn dắt thị trường suốt quý 3, rồi cũng chính nhóm này giảm mạnh nhất trong tuần 28/9–2/10 và tiếp tục điều chỉnh ở tuần kế tiếp. Diễn biến đó cho thấy "thuận chu kỳ" cần được tách thành nhiều nhóm, vì mỗi nhóm có cơ chế hưởng lợi, độ trễ và rủi ro khác nhau.
Bối cảnh: một chu kỳ quen thuộc
Fed tăng lãi suất vì "lạm phát đã ở mức cao quá lâu", theo phát biểu của Chủ tịch Kevin Warsh. Xung đột Trung Đông liên tục đe dọa tuyến vận chuyển qua Hormuz và Bab el-Mandeb. Chiến sự càng kéo dài, cuộc chiến với lạm phát càng kéo dài, và các ngân hàng trung ương càng có thêm lý do giữ lãi suất cao. Giá dầu thế giới đi vào giá xăng trong nước qua từng kỳ điều hành, nên mỗi đợt căng thẳng ở Trung Đông đều có thể phản ánh khá nhanh vào chi phí của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Đầu tháng 10, lãi suất tiết kiệm 12 tháng tại 35 ngân hàng dao động 3,7–7,8%/năm, chứng chỉ tiền gửi lên tới 7,5%. Lãi suất chứng chỉ tiền gửi cao hơn tiết kiệm thường 1–3 điểm %, cho thấy ngân hàng đang cần vốn trung và dài hạn. Quý 4 lại là mùa cao điểm tín dụng, nên khả năng lãi suất giảm nhanh trước cuối năm không cao. Một chiếc xe đang chạy trên cao tốc khó quay đầu ngay.
Nhìn lại các năm 2014, 2018 và 2022, thị trường Việt Nam đều có những giai đoạn điều chỉnh đáng kể, cách nhau khoảng 4 năm, và năm 2026 đang có nhiều điểm tương đồng. Mỗi lần ngòi nổ khác nhau; năm 2022 và năm nay có chung bối cảnh mặt bằng lãi suất đi lên. Năm 2022 để lại một bài học: lãi suất huy động tiếp tục tăng đến cuối năm, trong khi VN-Index đã tạo đáy từ giữa tháng 11/2022. Ở lần đó, giá cổ phiếu đi trước diễn biến lãi suất khoảng một đến hai tháng.
Bối cảnh nào cũng có bên chịu thiệt và bên hưởng lợi. Từ bối cảnh lạm phát cao, lãi suất tăng dần, tiền đắt, giá hàng hóa và cước vận tải leo thang, TLG Research xác định năm nhóm doanh nghiệp thuận chu kỳ. Thứ tự các nhóm dựa trên một tiêu chí: lợi ích đi vào kết quả kinh doanh nhanh và trực tiếp đến đâu. Nhóm càng ở trên, lợi ích càng gần báo cáo tài chính. Càng xuống dưới, giá càng phụ thuộc vào câu chuyện.
[Image: ]
Nhóm 1: Tiền mặt lớn (BVH, GAS, BSR, PVS)
Khi tiền đắt, doanh nghiệp cầm nhiều tiền đứng ở vị thế người cho vay. Lợi ích đến theo hai đường:
Lãi tiền gửi tăng ngay. Khoản tiền gửi hôm nay đã hưởng lãi suất cao hơn, không cần chờ hợp đồng mới hay mùa vụ.
Mua được tài sản rẻ. Doanh nghiệp có tiền có thể mua lại tài sản giá thấp của những bên đang cần thanh khoản.
BVH minh họa cho đường thứ nhất. Đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản của tập đoàn khoảng 315.700 tỷ đồng, chủ yếu là tiền gửi và trái phiếu. Trong quý 2, BVH chuyển khoảng 23.600 tỷ đồng từ tiền gửi kỳ hạn dưới 1 năm sang kỳ hạn dài hơn, với lãi suất cao nhất 8,6%/năm. Nhờ đó, lợi suất bình quân của danh mục đầu tư trong quý lên khoảng 5,9%, tăng khoảng 0,4–0,5 điểm % so với quý trước. Doanh thu hoạt động tài chính quý 2 tăng 31% lên khoảng 4.440 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế quý 2 đạt 1.283 tỷ đồng, tăng khoảng 50% so với cùng kỳ.
Nhóm này có hai giới hạn.
Chất lượng lợi nhuận. Một phần mức cải thiện lợi nhuận bảo hiểm của BVH đến từ hoàn nhập dự phòng lãi suất cam kết. Với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có cam kết lãi suất tối thiểu cho khách hàng, doanh nghiệp phải trích dự phòng khi lợi suất đầu tư thấp hơn mức cam kết. Khi lãi suất thị trường tăng và lợi suất danh mục vượt mức cam kết, phần dự phòng dư được hoàn nhập vào lợi nhuận. Đây là bút toán kế toán, không tạo ra dòng tiền, và có thể đảo chiều khi lãi suất giảm. Lãi suất cao cũng có mặt trái: chi phí tài chính quý 2 tăng 86% lên khoảng 1.202 tỷ đồng, nên lợi nhuận tài chính thuần chỉ tăng 18%. Với PVS, lợi nhuận quý 2 có đóng góp từ một khoản bồi thường một lần; nếu loại trừ khoản này, lợi nhuận cốt lõi giảm so với cùng kỳ.
Tiền mặt không tự chuyển thành giá cổ phiếu. Lợi nhuận quý 2 của GAS tăng 23% so với cùng kỳ. Tuy vậy, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng chỉ còn 4,24%, khiến GAS không còn đáp ứng điều kiện công ty đại chúng. Vì vậy, giá cổ phiếu GAS hiện chịu tác động của câu chuyện xử lý vốn nhà nước nhiều hơn của số dư tiền gửi.
Nhóm 2: Chuyển được lạm phát vào giá bán (PVT, DCM, PLX, điện nước, y tế)
Logic của nhóm này là cầu ít co giãn:
Giá xăng tăng, người đi làm vẫn cần đổ xăng.
Đến vụ, nông dân khó giảm lượng phân bón.
Các quốc gia khó cắt giảm việc thuê tàu chở dầu, vì đó là vấn đề an ninh năng lượng.
Bệnh năm nay khó để sang năm mới chữa.
PVT là một ví dụ rõ nét. Trong 8 tháng đầu năm, cước tàu Aframax tăng 76% so với cùng kỳ, tàu MR tăng 39%, tàu Handymax tăng 33%. Lợi nhuận trước thuế quý 2 của PVT đạt 834 tỷ đồng, tăng 91,3%. Biên lãi gộp mảng vận tải tăng lên 28,4% từ khoảng 21%. Hợp đồng thuê tàu ký theo kỳ hạn, nên mức cước mới đi vào doanh thu từ từ. Khi thị trường đảo chiều, lợi nhuận cũng rút ra từ từ như vậy.
Rủi ro nằm ở chiều ngược lại. Chính PVT cảnh báo cước tàu năm 2027 có thể giảm khoảng 30% nếu Hormuz bình thường hóa. Vietcap ước giảm 30–41% tùy loại tàu, còn BSC chỉ ước giảm 5–10%. Các dự báo chênh nhau xa như vậy cho thấy lợi nhuận của nhóm 2 phụ thuộc lớn vào thời gian khủng hoảng kéo dài.
[Image: ]
Ở Việt Nam, xăng dầu, điện và nước là mặt hàng có giá điều tiết, nên doanh nghiệp chỉ chuyển được chi phí vào giá theo từng kỳ điều hành. OIL chuyển sang lỗ trong quý 2 dù doanh thu tăng, do giá bán lẻ được điều chỉnh chậm hơn giá vốn. Vì vậy, ngoài việc doanh nghiệp có chuyển được lạm phát vào giá hay không, nhà đầu tư cần đo thêm tốc độ chuyển.
Nhóm 3: Huy động được tiền (GVR, BID, PLX, BSR, SSI, VCI)
Khi vốn vay đắt, doanh nghiệp tự huy động được vốn qua thoái vốn, tăng vốn hoặc nâng hạng có lợi thế lớn hơn doanh nghiệp phải đi vay.
BSR có mặt ở cả nhóm 1 và nhóm 3. Lợi nhuận ròng quý 2 đạt 7.666 tỷ đồng. PVN đang sở hữu 92,13%, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp khiến BSR chưa vào được các rổ chỉ số toàn cầu. Phương án tăng vốn để giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước đang được tính tới.
Giá cổ phiếu đã phản ánh đáng kể những yếu tố này. Ngày 28/9, BSR đóng cửa ở 32.400 đồng, tăng 103,52% từ đầu năm; sang tuần 5–9/10, cổ phiếu giảm 2,97%. MBS dự báo lợi nhuận sau thuế quý 3 khoảng 4.573 tỷ đồng, gấp khoảng 5 lần cùng kỳ nhưng giảm khoảng 39% so với quý 2, vì biên lọc dầu (crack spread) mang tính chu kỳ. Khi giá đã gấp đôi, P/E thấp có thể phản ánh lợi nhuận ở vùng cao của chu kỳ nhiều hơn là một mức giá rẻ.
Ngân hàng và chứng khoán trong nhóm này cần được xét riêng. Chúng hưởng lợi từ tăng vốn và nâng hạng, nhưng cũng chịu trực tiếp chi phí vốn cao:
Ngân hàng huy động đắt hơn trong khi nhu cầu vay yếu.
Thanh khoản thị trường thấp làm giảm doanh thu môi giới của công ty chứng khoán.
Nhóm 4: Bán lẻ, tiêu dùng, công nghệ thiết yếu (MWG, DGW, FRT, VNM, FPT)
Trong chu kỳ tiền đắt và giá cả tăng, dòng tiền có cơ sở ưu tiên những doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thường xuyên, sở hữu hệ thống phân phối mạnh và vận hành hiệu quả. Người tiêu dùng phân bổ ngân sách tập trung hơn, tạo lợi thế cho doanh nghiệp có sản phẩm phù hợp, giá cạnh tranh và thương hiệu được tin tưởng.
FRT có động lực từ dược phẩm và chăm sóc sức khỏe, những nhu cầu được ưu tiên trong ngân sách gia đình. VNM có nền tảng tiêu dùng thường xuyên cùng lợi thế thương hiệu và độ phủ phân phối. MWG, DGW có cơ hội khai thác nhu cầu thiết bị phục vụ công việc, học tập và đời sống, đồng thời tận dụng quy mô để tối ưu mua hàng, tồn kho và chi phí.
Với FPT, nhu cầu nâng năng suất, tự động hóa và tiết kiệm chi phí của khách hàng tạo động lực cho dịch vụ công nghệ. Khi doanh nghiệp phải sử dụng vốn hiệu quả hơn, các giải pháp có khả năng tạo giá trị kinh tế rõ ràng càng được ưu tiên.
Lợi thế thuận chu kỳ của nhóm này nằm ở sức cầu bền, khả năng mở rộng thị phần và hiệu quả vận hành. Tuy vậy, nhãn "thiết yếu" chưa đủ để giá cổ phiếu đi lên: tính từ vùng giá cao nhất đầu năm đến ngày 1/10, FPT giảm khoảng 35% và VNM giảm khoảng 20% (tự tính). Với nhóm này, khả năng chuyển lợi thế thành lợi nhuận, dòng tiền và mặt bằng định giá ban đầu quyết định nhiều hơn tên ngành.
Nhóm 5: Động lực riêng (SSB, MSB, STB, DGW)
Trong giai đoạn nguồn vốn trở nên đắt hơn, doanh nghiệp có động lực riêng được triển khai rõ ràng có thể có thêm lợi thế thu hút vốn và mở rộng hoạt động. Dự án mới, vào rổ chỉ số, hợp tác với đối tác nước ngoài, bán vốn hoặc mở rộng ngành hàng đều có thể tạo bước tiến về nguồn lực và vị thế kinh doanh.
Với SSB, MSB và STB, các câu chuyện về đối tác chiến lược, tái cơ cấu, xử lý tài sản hoặc dòng vốn chỉ số là những hướng nghiên cứu có thể mở ra dư địa phát triển. Khi phương án được công bố và triển khai, thị trường có thêm cơ sở đánh giá khả năng bổ sung vốn, cải thiện hiệu quả và nâng giá trị doanh nghiệp.
Với DGW, thương hiệu mới và hợp đồng phân phối mới có thể nhanh chóng mở rộng danh mục sản phẩm, tận dụng hệ thống sẵn có để gia tăng doanh số. Đây là lợi thế của mô hình phân phối có khả năng nhân rộng trên nền tảng vận hành đã xây dựng.
Sức hấp dẫn của nhóm này đến từ sự kết hợp giữa thuận lợi chu kỳ và bước tiến riêng của từng doanh nghiệp. Mặt trái là giá phụ thuộc nhiều vào kỳ vọng, nên có thể đảo chiều nhanh khi câu chuyện chậm tiến độ hoặc xuất hiện thông tin trái chiều. SSB là một ví dụ: cổ phiếu tăng khoảng 36% sau 7 phiên, rồi giảm sàn ngày 21/9, cùng thời điểm có thông tin người nhà lãnh đạo đăng ký bán 8 triệu cổ phiếu.
Dòng tiền đi theo thứ tự nào?
Quý 3 cho thấy dòng tiền vào nhóm 1 và 2 trước, sau đó mới lan dần sang nhóm 3, 4, 5, có thể ví von là “hết nạc mới vạc đến xương”. Thứ tự này không cố định cho các quý tiếp theo, và nhóm đi đầu cũng là nhóm chịu áp lực chốt lời sớm. Trong tuần 28/9–2/10, VN-Index giảm 2,66% còn 1.737,71 điểm, nhóm năng lượng giảm mạnh nhất với mức −2,35%, khối ngoại bán ròng khoảng 4.900 tỷ đồng. Tuần 5–9/10, VN-Index giảm nhẹ 0,15% về 1.735,09 điểm, nhóm năng lượng tiếp tục giảm hơn 1,5% (BSR −2,97%, GAS −1,59%, PVT −1,37%) và khối ngoại bán ròng khoảng 14.000 tỷ đồng.
[Image: ]
Phần dưới đây là nhận định cá nhân dựa trên dữ liệu đến ngày 9/10/2026 và có thể thay đổi khi có thông tin mới. Bối cảnh tiền đắt nhiều khả năng còn kéo dài qua quý 4, nên năm nhóm trên vẫn có giá trị như một khung phân loại.
Một phần đáng kể lợi ích của nhóm 1 và nhóm 2 đã đi vào giá, thể hiện qua mức tăng hơn 100% từ đầu năm của BSR tính đến ngày 28/9. Một cổ phiếu đã tăng hơn 100% mang rủi ro khác hẳn lúc nó còn tích lũy với thanh khoản thấp. Ở mỗi con sóng, đến cuối cùng vẫn có người mua sau và ở lại. Ba câu hỏi giúp đánh giá lại một cổ phiếu trong nhóm thuận chu kỳ:
-
Cơ chế hưởng lợi của nhóm còn vận hành không.
-
Lợi nhuận đến từ hoạt động cốt lõi hay từ khoản một lần.
-
Giá đã phản ánh đến đâu.
Diễn biến giá cũng không nhất thiết đi sau diễn biến lãi suất. Năm 2022, thị trường đã tạo đáy trước khi lãi suất đạt đỉnh.
Thị trường thường để lại hai nhóm người thua: người sợ bỏ lỡ cơ hội thường mất tiền, còn người sợ mất tiền thường bỏ lỡ cơ hội. Năm nhóm trên giúp thay hai nỗi sợ đó bằng một câu hỏi cụ thể hơn: doanh nghiệp này hưởng lợi bằng cơ chế nào, và lợi ích ấy đến nhanh hay chậm.
Mùa nào thức ấy. Một loài hoa hợp khí hậu Đà Lạt, mang ra Hà Nội trồng vẫn sống được, nhưng lay lắt. Cổ phiếu cũng vậy: doanh nghiệp tốt đặt sai bối cảnh vẫn có phiên tăng, nhưng khó tạo thành xu hướng. Nhà đầu tư không chọn được thời tiết, nhưng chọn được chỗ đứng khi thời tiết thay đổi.
Rủi ro chính đối với các nhận định trên:
Xung đột Trung Đông hạ nhiệt nhanh hơn dự kiến, kéo giá dầu và cước tàu giảm.
Lợi nhuận ở vùng cao của chu kỳ khiến định giá trông rẻ hơn thực tế.
Lộ trình thoái vốn, tăng vốn của doanh nghiệp nhà nước chậm hoặc thay đổi.
Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh.
Giá điều tiết khiến việc chuyển chi phí vào giá bán chậm hơn kỳ vọng.
Số liệu có ghi nguồn là dữ liệu doanh nghiệp hoặc báo chí đã công bố; số liệu ghi "tự tính" là tính toán cá nhân; các bảng minh họa dựa trên giả định và không phải dự báo.
Nội dung này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin, phân tích và giáo dục tài chính. Nội dung không phải là cam kết lợi nhuận, không bảo đảm hiệu quả đầu tư, không phải khuyến nghị đầu tư cá nhân hóa và không thay thế quyết định đầu tư độc lập của nhà đầu tư. Nhà đầu tư cần tự đánh giá khẩu vị rủi ro và chịu trách nhiệm đối với quyết định đầu tư của mình.
Thuật ngữ trong bài
Thanh khoảnMức độ dễ dàng mua bán một cổ phiếu mà không làm giá biến động nhiều; thường đo bằng giá trị giao dịch.
VN-IndexChỉ số của toàn bộ cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE), tính theo vốn hóa.
Lạm phát (CPI)Mức tăng giá chung của giỏ hàng tiêu dùng, đo bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI.
Thông tin chỉ mang tính tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.
Cổ phiếu rẻ nhất 5 năm, vì sao dòng tiền vẫn thận trọng?
Thời báo kinh doanh09:16 14/10/2026
Nhà đầu tư Hàn Quốc đổ tiền vào chứng khoán Việt, bất chấp lợi nhuận sụt giảm
Vietnam Finance08:46 14/10/2026
Phát triển cơ sở hạ tầng và thị trường vốn
Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp07:15 14/10/2026
VN-Index ghi nhận rung lắc tiếp diễn, nhà đầu tư kiên nhẫn chờ tín hiệu xác nhận
Người đưa tin06:20 14/10/2026VN30▼−0,06%VNINDEX▼−0,12%
JICA tiếp tục hỗ trợ củng cố nền tảng thị trường chứng khoán Việt Nam sau nâng hạng
Thời báo tài chính VN21:15 13/10/2026
Sự kiện chứng khoán ngày 13/10/2026
Tạp chí tài chính20:17 13/10/2026AIG▼−0,43%DIG■0,00%PVM■0,00%