Quay lại

Ngân hàng nửa cuối năm 2026: Trên lo thanh khoản, dưới ngại nợ xấu

stockbiz · 14:38:43 8/8/2026 nguồn

bearish shortbanking

Ngân hàng đóng góp 37% lợi nhuận thị trường, nhưng LDR 102,4% và nợ xấu 1,97% gây áp lực.

Top performers

  • 1STBSacombankLLR Q2/202656,67%
  • 2HDBHDBankLLR Q2/202650,01%
  • 3VIBVIBLLR Q2/202643,58%

Laggards

  • 1CTGVietinBankTăng trưởng nợ xấu+21,8%
  • 2HDBHDBankTăng trưởng nợ xấu+17,6%
  • 3STBSacombankTăng trưởng nợ xấu+15,6%

Tổng kết: Thanh khoản vẫn là điểm nghẽn khi tiền gửi tăng 5,3% sau mức 1,5% ở Q1/2026, trong khi LDR toàn ngành ở 102,4%. Chất lượng tài sản xấu đi với nợ xấu toàn ngành tăng 21,4% và nợ Nhóm 2 tăng 31,6%, khiến rủi ro chi phí vốn và trích lập còn đáng theo dõi.

Tóm tắt sinh bởi AI từ stockbiz. Có thể không chính xác — kiểm tra số liệu trong bài gốc.

Toàn văn từ nguồn

Kết thúc nửa đầu năm, ngành ngân hàng tiếp tục là là trụ cột tăng trưởng lợi nhuận khi đóng góp 37% tổng lợi nhuận toàn thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, bước sang nửa cuối năm, bên cạnh những triển vọng tích cực, ngành ngân hàng đang phải đối mặt với hai thách thức lớn, đó là rủi ro thanh khoản và nợ xấu.

Thanh khoản vẫn cực kỳ khó khăn

Trong báo cáo Cập nhật ngành Ngân hàng của SSI, các chuyên gia phân tích chỉ ra, tổng tiền gửi tăng 5,3% so với quý trước, tương đương tốc độ tăng trưởng tín dụng, sau khi chỉ tăng 1,5% trong quý I/2026. Dù có cải thiện, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) toàn ngành vẫn ở mức cao 102,4%, phản ánh áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu.

Bà Bùi Thị Thu Thủy, Giám đốc Cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp Techcombank nhận định, thị trường thanh khoản nội địa nói chung vẫn đang trong trạng thái chịu áp lực lớn. Nhu cầu sử dụng vốn của các doanh nghiệp, đà gia tăng của đầu tư hạ tầng cùng mức tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ liên tục tạo sức ép lớn lên nguồn vốn huy động của ngân hàng.

Tại cuộc gặp gỡ nhà đầu tư mới đây, ban lãnh đạo MB cũng đề cập đến áp lực thanh khoản trong nửa đầu năm và cho rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro lớn nhất trong những tháng cuối năm 2026. "Dù tình hình có cải thiện nhẹ vào cuối nửa đầu năm nhưng thanh khoản hệ thống nhìn chung vẫn cực kỳ khó khăn, gây áp lực lớn lên hoạt động kinh doanh của toàn ngành tài chính", đại diện MB cho hay.

Tăng trưởng tín dụng và huy động nửa đầu năm của một số ngân hàng.

Bên cạnh đó, lãnh đạo ngân hàng nhấn mạnh thanh khoản hệ thống không nằm hoàn toàn trong tầm kiểm soát của ngân hàng mà phụ thuộc lớn vào chính sách tiền tệ và tài khóa của Nhà nước.

“Nếu chính sách tài khóa cuối năm thực hiện tốt, đặc biệt là giải ngân đầu tư công hiệu quả, dòng tiền sẽ được khơi thông quay trở lại hệ thống và hỗ trợ nền kinh tế. Ngược lại, nếu đầu tư công tiếp tục chậm trễ, đây sẽ là một áp lực rất lớn cho thanh khoản”, lãnh đạo MB cho hay.

Chuyên gia phân tích Đỗ Tùng tại VDSC cũng nhận định: “Chừng nào ngân sách chưa chuyển sang trạng thái thâm hụt, khoảng cách huy động – tín dụng sẽ khó thu hẹp đáng kể và mặt bằng lãi suất huy động khó đảo chiều. Đây vẫn là tín hiệu quan trọng nhất cần theo dõi để đánh giá thời điểm áp lực chi phí vốn của các ngân hàng tạo đỉnh”.

Song, ở góc độ tích cực, lãnh đạo các ngân hàng cũng chỉ ra những yếu tố kỳ vọng sẽ hỗ trợ cho thanh khoản hệ thống nửa cuối năm 2026.

Theo bà Thủy, hiện NHNN đang chủ động triển khai nhiều giải pháp và biện pháp can thiệp nhằm ổn định tình hình thanh khoản hệ thống, trong đó, việc Ngân hàng Nhà nước nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% là điều vô cùng tích cực.

Thêm vào đó, hiện các ngân hàng cũng đang chủ động đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn vốn, không phụ thuộc vào thanh khoản nội địa. Đơn cử như MB, ngay từ đầu năm, ngân hàng đã chủ động đẩy mạnh vay vốn nước ngoài từ các đối tác quốc tế lớn để đa dạng hóa nguồn vốn huy động. Hay một số ngân hàng cũng đã đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi và vay vốn quốc tế, bao gồm VPBank (1,44 tỷ USD), HDBank (720 triệu USD) và ACB (500 triệu USD).

Chất lượng tài sản phân hóa

Bên cạnh áp lực thanh khoản, nợ xấu cũng là bài toán mà các ngân hàng sẽ phải đối mặt trong nửa cuối năm 2026, nhất là trong bối cảnh mặt bằng lãi suất cho vay tăng nhanh.

Báo cáo của SSI chỉ ra, chất lượng tài sản có sự phân hóa giữa các ngân hàng, trong khi những dấu hiệu suy yếu dần xuất hiện. Theo đó, nợ xấu toàn ngành tăng 21,4% tính từ đầu năm (tăng 9,5% so với quý trước) với mức tăng chủ yếu tập trung tại VietinBank (tăng 21,8% so với quý trước), Sacombank (tăng 15,6% so với quý trước), HDBank (tăng 17,6% so với quý trước) và BIDV (tăng 7,2% so với trước).

Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành cũng tăng lên 1,97% trong quý II/2026 (so với 1,88% trong quý I/2026). Đồng thời, đây cũng là mức tăng cao nhất của quý 2 kể từ năm 2020. Nợ Nhóm 2 cũng tăng đáng kể 31,6% tính từ đầu năm và tăng 17,5% so với quý trước.

[Image: ]

Tỷ lệ nợ xấu và bao phủ nợ xấu quý II/2026 của một số ngân hàng.

Tại MB, lãnh đạo ngân hàng cho hay, trong nửa đầu năm 2026, nhóm khách hàng cá nhân ghi nhận áp lực nợ xấu tăng do người dân bị suy giảm thu nhập tích lũy từ các năm trước. Nhóm này cũng chịu tác động gián tiếp từ sự sụt giảm mạnh của thị trường bất động sản và một số khó khăn tạm thời sau sáp nhập.

Đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp, áp lực nợ xấu xuất hiện rõ rệt ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ có năng lực kiểm soát dòng tiền kém. Đặc biệt, rủi ro tập trung ở ngành xây lắp do vướng mắc trong khâu thanh toán, nghiệm thu chậm và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại.

Trong khi đó, đại diện VPBank cho biết, sự bất ổn và biến động của nền kinh tế gây áp lực gián tiếp lên khả năng trả nợ của khách hàng. Điển hình như phân khúc SME phải rất chủ động rà soát lại các hệ thống chấm điểm và siết chặt chính sách tín dụng để bảo vệ chất lượng nợ trước các rủi ro bên ngoài. Ngân hàng cũng thừa nhận với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm rất cao là 35%, việc kiểm soát chất lượng nợ song song với đà tăng trưởng số lượng là một bài toán khó phải "đặt lên bàn cân" khi quy mô tài sản ngày càng to thêm.

Đáng nói, trước áp lực về chất lượng nợ vay, bộ đệm dự phòng của phần lớn ngân hàng vẫn chưa được củng cố tương xứng. Tính đến hết quý II/2026, Vietcombank là ngân hàng duy nhất cải thiện rõ rệt tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) trong khi đa phần tỷ lệ LLR của các ngân hàng còn lại duy trì hoặc đi ngang ở vùng thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2023 – 2024. Thậm chí, một số ngân hàng có tỷ lệ LLR dưới 60%, như Sacombank (56,67%), HDBank (50,01%), VIB (43,58%),…

Theo chuyên viên phân tích Đỗ Tùng, VDSC, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong nửa cuối năm 2026 và là rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt tại nhóm ngân hàng có tỷ lệ LLR dưới 60%.

Các biến số cần theo dõi trong các quý tới gồm tốc độ hình thành nợ nhóm 2 có chững lại hay không khi mặt bằng lãi suất tạo đỉnh; khả năng duy trì nguồn thu hồi nợ ngoại bảng trước diễn biến hạ nhiệt của thanh khoản thị trường bất động sản; và tiến độ củng cố bộ đệm dự phòng tại các ngân hàng có nợ xấu hình thành ròng lớn.

Nam Anh

Link gốc