Theo Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, để tạo đà xuất khẩu cho nông sản Vĩnh Long thì việc hoàn thiện cơ chế tài chính hỗ trợ người dân và doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
[Image: ]
Nông dân Vĩnh Long đang rất cần hỗ trợ tài chính để áp dụng công nghệ cao trồng trái cây hữu cơ. Ảnh: CTV
Địa phương có nhiều tiềm năng phát triển nông sản
Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Trần Trường Giang cho biết, tỉnh Vĩnh Long có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp và thủy sản nhờ vị trí nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, nguồn nước ngọt dồi dào và đất phù sa màu mỡ.
Điều kiện tự nhiên này tạo lợi thế phát triển các vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, cây ăn trái đặc sản, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và chăn nuôi tập trung. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy ngày càng hoàn thiện, giúp kết nối thuận lợi với các trung tâm kinh tế và thị trường tiêu thụ.
Người dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, từng bước áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong khi các chính sách hỗ trợ của nhà nước về tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế hợp tác đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng.
Chính vì vậy, theo ông Giang, năm 2025 riêng diện tích gieo trồng lúa của tỉnh Vĩnh Long đã đạt 329.550 ha, năng suất 5,67 tấn/ha, sản lượng 1,87 triệu tấn, trong đó sản lượng lúa hàng hóa khoảng 1,75 triệu tấn, diện tích sử dụng giống xác nhận đạt trên 90%, diện tích áp dụng cơ giới hóa đồng bộ đạt trên 95%.
Diện tích sử dụng lúa chất lượng cao, đạt gần 80% đang dần chuyển sang thực hiện quy trình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp, tham gia tích cực Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” mang lại hiệu quả đáng kể, tập trung phát triển ở các xã, phường vùng ngọt và ngọt - lợ.
Cũng theo ông Giang, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất và đưa cây màu xuống chân ruộng đang có xu hướng phát triển, tổng diện tích trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây hàng năm khác năm 2025 là 124.470 ha, ước sản lượng khoảng 3,17 triệu tấn, trên 95% diện tích trồng màu đã áp dụng các giống mới, 30% diện tích áp dụng theo hướng GAP và tương đương đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu tập trung phát triển ở hầu hết các xã, phường trên địa bàn tỉnh.
Diện tích cây ăn trái và cây dừa tiếp tục được cải tạo và trồng mới bình quân hàng năm khoảng 5.000 ha, nâng tổng diện tích đến nay khoảng 224.471 ha (trong đó cây ăn trái 101.988 ha), tổng sản lượng ước đạt 3,72 triệu tấn (trong đó trái cây 2,39 triệu tấn), có khoảng 70% diện tích sử dụng giống mới và áp dụng biện pháp kỹ thuật mới nâng cao được chất lượng tập trung ở các xã, phường vùng ngọt. Trong đó cây dừa giữ vai trò chủ lực.
Toàn tỉnh có 122.483 ha dừa (diện tích cho trái 114.163 ha, chiếm 92,3% diện tích dừa của toàn tỉnh) chiếm hơn 50% diện tích dừa cả nước, sản lượng 1,33 triệu tấn. Trong đó, diện tích dừa hữu cơ đạt chứng nhận là khoảng 36.000 ha, chiếm gần 25% diện tích dừa của tỉnh; Dự kiến năm 2026 phát triển thêm 14.820 ha dừa hữu cơ, đến cuối năm 2026 tỷ lệ dừa hữu cơ chiếm khoảng 36-37% diện tích dừa của tỉnh.
Các doanh nghiệp liên kết tiêu thụ dừa hữu cơ như Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex), Công ty TNHH chế biến dừa Lương Quới, Công ty cổ phần chế biến dừa Á Châu, Công ty cổ phần Đầu Tư Dừa, Công ty TNHH chế biến Nông sản Thuận Phong, Công ty TNHH Thực phẩm Dừa Xanh, Công ty TNHH Dừa Định Phú Mỹ, Công ty TNHH Lin Huỳnh...
Toàn tỉnh có gần 1.700 cơ sở sản xuất ban đầu, thu gom, sơ chế, chế biến, kinh doanh các sản phẩm nông sản, thủy sản được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Các cơ sở đều quan tâm đầu tư chất lượng nguồn nguyên liệu; các sản phẩm rau quả được chế biến, đóng gói trên dây chuyền sản xuất hiện đại, khép kín, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu; áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế như HACCP, ISO 22000:2005, BRC, Kosher, Halal...
Cần hỗ trợ tài chính cho người dân, doanh nghiệp
Theo ông Trần Trường Giang, tỉnh vĩnh Long vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là biến đổi khí hậu làm gia tăng tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, mưa lớn và ngập úng cục bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng sản xuất.
[Image: ]
Nguồn lực về tài chính sẽ tạo đà xuất khẩu cho nông sản Vĩnh Long. Ảnh: CTV
Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, gây khó khăn trong cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ cao và hình thành các vùng nguyên liệu tập trung. Giá vật tư đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi và thủy sản liên tục biến động làm tăng chi phí sản xuất. Thị trường tiêu thụ chưa thực sự ổn định, liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế, trong khi yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe.
Ngoài ra, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và dịch bệnh trong nuôi thủy sản, tình trạng ô nhiễm môi trường, chất lượng giống chưa đồng đều và quá trình già hóa lao động nông nghiệp, thiếu lao động mùa vụ cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả và tính bền vững của ngành.
Trong khi đó ông Tiêu Thanh Tân, Phó giám đốc Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long cho biết, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh được ban hành được triển khai rộng rãi đến các xã, phường để tư vấn, tuyên truyền, áp dụng.
Riêng đối với chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể, từ khi ban hành đến nay đã hỗ trợ 22 lao động về làm việc tại các hợp tác xã với kinh phí 755 triệu đồng. Bên cạnh đó, Vĩnh Long cũng xây dựng kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp trong chuyển đổi số hướng tới mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ ít nhất 5.000 doanh nghiệp (trong đó 3.000 doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số, AI), hình thành 20 doanh nghiệp số tiêu biểu và phát triển hạ tầng băng rộng, 5G tại các khu công nghiệp.
Tuy nhiên khó khăn lớn nhất của tỉnh là, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, không được Trung ương phân bổ kinh phí nên các doanh nghiệp không tiếp cận được. Hiện nay, Bộ Tài chính đang hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của Chính phủ (đã lấy ý kiến lần 3).
Bên cạnh đó, tình hình biến động thị trường hiện nay và chi phí sản xuất tăng cao do chi phí vật tư nông nghiệp đầu vào cao làm suy giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Vì vậy, theo ông Tân, để tăng giá trị nông sản Vĩnh Long và đáp ứng hàng rào kỹ thuật về giảm phát thải carbon của thế giới, các bộ, ngành Trung ương cần nghiên cứu ban hành một số cơ chế về nâng mức hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các dự án chế biến sâu, nông nghiệp công nghệ cao.
Triển khai rộng rãi các gói “Tín dụng xanh” với lãi suất ưu đãi thấp cho các hợp tác xã, doanh nghiệp áp dụng quy trình nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 14 và các tổ chức tài chính tháo gỡ rào cản tín dụng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đổi mới công nghệ chế biến sâu.
Tăng cường bổ sung nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu cho tỉnh để hoàn thiện hạ tầng Khu kinh tế Định An, hạ tầng giao thông và dịch vụ logistics vùng Đồng bằng sông Cửu Long.