Thời gian qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về tiền tệ, tín dụng nhằm thực hiện đồng thời các mục tiêu, vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống, vừa hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững
[Image: ]
Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước phát biểu tại Hội thảo Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7/2026.
Ngày 23/7/2026 tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo Giải pháp phát triển bền vững thị trường vốn.
Ban tổ chức trân trọng giới thiệu bài phát biểu của bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước tại Hội thảo, với chủ đề "Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế":
Trong 6 tháng đầu năm 2026, bối cảnh kinh tế – tài chính toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường. Căng thẳng địa chính trị gia tăng, đặc biệt là sự leo thang xung đột tại Trung Đông, đã đẩy giá năng lượng và chi phí vận chuyển lên cao, gây áp lực lạm phát và gia tăng biến động trên thị trường hàng hóa thế giới, tác động trực tiếp đến các nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam. Trong nước, nền kinh tế duy trì đà bứt phá mạnh mẽ: GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ (cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025) và đạt mức kỷ lục giai đoạn 2011–2026. Sản xuất công nghiệp tiếp tục là trụ cột tăng trưởng, thu hút vốn FDI đạt kết quả bứt phá cùng với niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp từng bước được củng cố; tuy nhiên, nền kinh tế vẫn tiếp tục đối mặt với một số khó khăn, thách thức.
Trên cơ sở bám sát các chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về tiền tệ, tín dụng nhằm thực hiện đồng thời các mục tiêu, vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống, vừa hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Trong đó, các giải pháp tín dụng, tín dụng ngành, lĩnh vực đã được triển khai quyết liệt, góp phần tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng và phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; tập trung vào các nhóm giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, thường xuyên rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng và tín dụng ngành, lĩnh vực để đồng bộ với Luật các tổ chức tín dụng, cũng như cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phù hợp với yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục, chuyển đổi số, góp phần tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng.
Thứ hai, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực. Trong đó, NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng liên quan đến công tác tín dụng chung, tín dụng ngành, lĩnh vực, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Thứ ba, đẩy mạnh triển khai mạnh mẽ, sâu rộng chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để nắm bắt các khó khăn vướng mắc trong quan hệ tín dụng ngân hàng và có giải pháp kịp thời xử lý, tháo gỡ. Trong nửa đầu năm 2026, đã có hơn 1.000 buổi gặp gỡ, cuộc đối thoại, kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được tổ chức để đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng tại các địa phương trên toàn quốc.
Thứ tư, đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, với lãi suất thấp, ưu đãi từ chính nguồn lực của các TCTD; đồng thời, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình này. Cụ thể như: Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản (04 lần nâng quy mô và đã cho vay với doanh số giải ngân lũy kế đạt 225.577 tỷ đồng, đạt 122% mục tiêu quy mô Chương trình); Chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL theo Quyết định 1490/QĐ-TTg (đã giải ngân khoảng 4.400 tỷ đồng); Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP (doanh số giải ngân 12.440 tỷ đồng, dư nợ đạt 10.175 tỷ đồng); Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược (dư nợ 11.649 tỷ đồng); Triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội, các chương trình tín dụng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia với nhiều kết quả tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, an sinh xã hội.
Thứ năm, triển khai nhiệm vụ có liên quan đến tín dụng ngân hàng tại các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, các đề án, chiến lược, kế hoạch phát triển tổng thể quốc gia, địa phương, vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm.
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tín dụng đã tăng dần từ đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế với quy mô dư nợ đến ngày 13/7/2026 đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025, bổ sung thêm cho nền kinh tế khoảng 1,46 triệu tỷ đồng so với cuối năm 2025.
Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động tín dụng ngân hàng còn gặp một số khó khăn, thách thức, như:
- Áp lực ảnh hưởng từ các yếu tố bất lợi bên ngoài (gián đoạn nguồn cung, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang...) ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của người dân doanh nghiệp, từ đó tác động đến việc mở rộng tín dụng hiệu quả;
- Tốc độ tăng huy động vốn đã có sự cải thiện, tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch tín dụng – huy động vẫn khá lớn, gây áp lực cho hệ thống ngân hàng trong việc huy động, cân đối đảm bảo nguồn lực cung ứng tín dụng để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số (theo Bộ Tài chính, nhu cầu vốn đầu tư xã hội năm 2026 là khoảng 5,1 triệu tỷ đồng/38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030);
- Nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 145%), trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng. Nhu cầu vốn trung, dài hạn, nhất là đối với các dự án, công trình trọng điểm ngày càng tăng, dẫn tới áp lực cung ứng vốn của TCTD cũng như rủi ro chênh lệch kỳ hạn, rủi ro thanh khoản cho các TCTD do nguồn vốn chính để các TCTD thực hiện cho vay chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn;
Năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026–2030. Đảng, Quốc hội và Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (phấn đấu từ 10% trở lên) gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Ngân hàng Nhà nước và ngành ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới, cụ thể:
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, quy định về hoạt động tín dụng ngân hàng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Điều hành và triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn và phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng;
- Thường xuyên theo dõi, đánh giá hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, trong nước tới các ngành, lĩnh vực kinh tế để có giải pháp điều hành tín dụng phù hợp; kịp thời phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng, tín dụng đối với ngành, lĩnh vực;
- Kịp thời tổ chức triển khai các nhiệm vụ của ngành ngân hàng tại các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước (về tam nông, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục, năng lượng, dự án, công trình trọng điểm…);
- Tiếp tục theo dõi, đẩy mạnh triển khai Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp dưới nhiều hình thức phù hợp để nắm bắt thực tế và kịp thời có giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc phát sinh trong công tác tín dụng.
Bên cạnh các giải pháp nêu trên của NHNN và ngành ngân hàng, cần có giải pháp tổng thể từ các cấp, ngành trong việc: tạo lập môi trường ổn định, duy trì niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công để tạo sự lan tỏa sang đầu tư của khu vực tư nhân và đầu tư toàn xã hội; phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực vốn tín dụng cho hệ thống ngân hàng; hoàn thiện thể chế, chiến lược, quy hoạch; cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, kinh doanh để nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, qua đó tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng định hướng đầu tư tín dụng phù hợp, hiệu quả.