Quay lại

Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Nhiều ngân hàng trả lãi trên 7%/năm, USD tiếp tục hạ giá

stockbiz · 08:56:47 10/10/2026 nguồn

neutral

Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Nhiều ngân hàng trả lãi trên 7%/năm, USD tiếp tục hạ giá

Tóm tắt sinh bởi AI từ stockbiz. Có thể không chính xác — kiểm tra số liệu trong bài gốc.

Toàn văn từ nguồn

Ngày 10/10/2026, nhiều ngân hàng tiếp tục niêm yết lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng ở mức 4,75%/năm, trong khi các kỳ hạn dài có mức lãi lên tới 7,8%/năm. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm giữ nguyên, Vietcombank giảm giá USD thêm 20 đồng.

[Image: Lãi suất - tỷ giá hôm nay: Nhiều ngân hàng trả lãi trên 7%/năm, USD tiếp tục hạ giá]
Giao dịch tại SHB.

Kỳ hạn ngắn đồng loạt chạm trần

Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 37 ngân hàng cho thấy, kỳ hạn 3 tháng đang có sự tập trung đáng kể ở mức 4,75%/năm - mức trần lãi suất áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng theo quy định hiện hành.

Có tới 17 ngân hàng trong bảng khảo sát niêm yết mức 4,75%/năm ở kỳ hạn này, gồm BAC A BANK, MBV, PGBank, PVcomBank, OCB, BVBank, BAOVIET Bank, SaigonBank, Cake by VPBank, VietABank, Sacombank, NCB, MSB, TPBank, VCBNeo, VPBank và BIDV.

Nhóm tiếp theo có Nam A Bank và Vikki Bank cùng ở mức 4,7%/năm; LPBank và SHB đạt 4,65%/năm; VietBank 4,6%/năm; VIB 4,55%/năm và Techcombank 4,5%/năm.

Ở chiều ngược lại, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 2,4%/năm, Agribank 2,9%/năm và SCB 1,9%/năm. Như vậy, ngay tại kỳ hạn 3 tháng, khoảng cách giữa mức lãi suất cao nhất và thấp nhất trong bảng khảo sát đã lên tới 2,85 điểm phần trăm.

Tại kỳ hạn 6 tháng, Sacombank niêm yết 7,2%/năm đối với tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng; BAC A BANK đạt 7,05%/năm. VCBNeo, LPBank, MBV và VPBank cùng ở mức 7%/năm, trong khi PGBank và SaigonBank niêm yết 6,9%/năm.

Một số ngân hàng khác cũng duy trì mức lãi suất tương đối cao ở kỳ hạn này, như BVBank 6,7%/năm, BIDV 6,6%/năm, OCB 6,5%/năm, BAOVIET Bank và Nam A Bank cùng 6,4%/năm.

Trong khi đó, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 3,5%/năm, Agribank 4%/năm và SCB 2,9%/năm.

Ở kỳ hạn 12 tháng, nhóm ngân hàng có lãi suất từ 7%/năm trở lên vẫn khá nhiều. Sacombank áp dụng mức 7,5%/năm cho khoản tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng; LPBank và SaigonBank cùng niêm yết 7,2%/năm; BAC A BANK và VPBank đạt 7,1%/năm. VCBNeo, MBV, PGBank và VIB cùng ở mức 7%/năm.

Ở nhóm thấp hơn, BVBank niêm yết 6,9%/năm; OCB, MSB và BIDV cùng đạt 6,8%/năm. Vietcombank, VietinBank và Agribank cùng ở mức 5,9%/năm, trong khi SCB áp dụng 3,7%/năm.

Đối với kỳ hạn 24 tháng, Sacombank tiếp tục có mức lãi suất cao nhất trong bảng khảo sát, đạt 7,8%/năm đối với tiền gửi trực tuyến từ 500 triệu đồng. Cake by VPBank niêm yết 7,4%/năm, LPBank 7,2%/năm, VPBank 7,1%/năm; VCBNeo, MBV và MBBank cùng đạt 7%/năm.

Tỷ giá VND/USD ổn định

Trên thị trường ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 VND/USD, giữ nguyên so với ngày 9/10. Theo thông tin đang được công bố trên cổng thông tin của NHNN, mức tỷ giá này áp dụng cho ngày 10/10/2026.

Với biên độ giao dịch ±5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 24.348 - 26.910 VND/USD.

Tại Vietcombank, giá USD được niêm yết ở mức 25.660 - 26.070 VND/USD (mua tiền mặt - bán ra), giá mua chuyển khoản đạt 25.690 VND/USD. So với ngày 9/10, cả ba mức giá đều giảm 20 đồng.

Đối với các ngoại tệ khác, Vietcombank niêm yết EUR ở mức 28.331,73 - 29.826,12 đồng (mua tiền mặt - bán ra), tăng lần lượt 26,04 đồng và 27,45 đồng so với ngày trước đó.

Đồng GBP được niêm yết ở mức 33.402,94 - 34.821,75 đồng (mua tiền mặt - bán ra), tăng lần lượt 12,02 đồng và 12,58 đồng. Trong khi đó, JPY giảm nhẹ, xuống 157,62 - 168,47 đồng (mua tiền mặt - bán ra), tương ứng giảm 0,10 đồng và 0,11 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY) tăng 0,13% lên 102,25 điểm, ghi nhận mức tăng khoảng 0,3% trong tuần và hướng tới tuần tăng thứ tư liên tiếp, chuỗi tăng dài nhất kể từ tháng 5/2025.

Trong khi đó, đồng euro giảm 0,1% xuống 1,1198 USD/EUR, đánh dấu tuần giảm thứ năm liên tiếp so với USD. Đồng yên Nhật cũng chịu áp lực khi tỷ giá USD/JPY tăng lên khoảng 158,35 JPY/USD. Diễn biến này phản ánh sức mạnh tương đối của đồng bạc xanh trong bối cảnh nhà đầu tư tiếp tục theo dõi chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và những biến động trên thị trường trái phiếu quốc tế.

Hương Dịu

Link gốc